Việc giải quyết vấn nạn sư tử đá hay nói rộng hơn là hiện vật lạ trong di tích, đình, chùa sẽ phải là chiến dịch lâu dài, cần có sự tham gia của nhiều ban ngành, thậm chí cả người dân có nhu cầu sử dụng linh vật.
Bộ VH-TT-DL vừa ra văn bản về việc không sử dụng biểu tượng, sản phẩm,linh vật không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam. Văn bản này được ban hành bởi thực trạng ở nhiều địa phương trưng bày, sử dụng biểu tượng, vật phẩm, linh vật (sư tử bằng đá và một số vật phẩm khác) theo tạo hình, hình thức không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam ở cổng, cửa, khu di tích, đình, chùa, công sở cơ quan, đơn vị gây phản cảm về thẩm mỹ, văn hóa, tâm linh ở những nơi công cộng. Tuy vậy, một câu hỏi đặt ra là: nếu dỡ bỏ những con vật lạ như sư tử đá thì những linh vật nào nên đặt ở những không gian đó để phù hợp với văn hóa Việt Nam. Quay lại với bản sắc Việt có lẽ không còn là câu chuyện quá sớm nhưng rất cần thiết để nhận diện thấu đáo bản sắc của nền văn hóa Việt. Trong một bài viết gần đây, nhà nghiên cứu mỹ thuật Trần Hậu Yên Thế - Đại học Mỹ thuật Việt Nam đã khẳng định: “Sư tử Trung Hoa chủ yếu dùng trấn yểm các lăng mộ, giương oai ở các đền đài, thành quách, không chịu chi phối bởi những ý niệm tôn giáo nào. Ngược lại, sư tử Đại Việt, liên quan đến Đức Phật, đến văn hóa Ấn Độ. Sư tử Đại Việt chủ yếu trong không gian tín ngưỡng Phật giáo, thể hiện những triết lý nhà Phật”. Từ những phân tích, lý giải và so sánh, nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế cho rằng: “Việt Nam không phải là môi trường “sinh sống” của sư tử đá”. Đồng quan điểm với nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế, Tiến sĩ Đinh Hồng Hải - Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cho rằng: Con nghê là linh vật tồn tại liên tục trong suốt dòng chảy văn hóa Việt hàng nghìn năm qua. Giá trị lịch sử qua hình ảnh con nghê cũng rất rõ ràng. Đó là sự hiện diện trên các kiến trúc cung đình thời Lý - Trần, trên đình chùa thời Lê. Nghê ở ban thờ tư gia của nhiều gia đình người Việt hiện tại. Trong văn hóa truyền thống hầu như rất hiếm sư tử, không thờ sư tử và hầu như không biết đến sư tử. Thế nhưng một linh vật khác có rất nhiều di tích thờ, thậm chí có làng thờ rất nhiều là thờ chó ở Hà Tây, hay ở ngay Hà Nội có đền cẩu nhi, tương truyền có từ đời Lý. Như vậy linh vật đối với người Việt là con chó chứ không phải là sư tử. Khi văn hóa Trung Hoa có yếu tố cung đình, thâm nhập vào Việt Nam, cộng với yếu tố văn hóa dân gian của người Việt thì một bên là linh vật như con toan nghê hay linh vật khác kết hợp với những linh vật đang được thờ trong văn hóa bản địa của người Việt như con chó đã hình thành nên con nghê. Chính vì thế chúng ta thấy ở rất nhiều nơi thì biểu tượng của con nghê rất gần gũi, quấn quýt, dung dị, giống một con chó nhiều hơn là sư tử.
Việc đặt linh vật để thỏa mãn nhu cầu phong thủy, tâm linh của tất cả mọi người là đúng nhưng đặt sao cho phù hợp cũng là điều quan trọng không kém. Những biểu tượng, những con vật linh trong văn hóa mang bản chất như thế nào thì chúng ta phải tôn trọng và đặt đúng chỗ của nó. Theo Tiến sĩ Đinh Hồng Hải thì “linh vật phù hợp với văn hóa Việt Nam nếu được hình thành trong nền văn hóa Việt Nam từ lâu đời là tốt nhất”. Ông cũng đưa ra ví dụ cụ thể với hình ảnh con chim hạc, hình con rồng thời Lý là hoàn toàn phù hợp với thuần phong mỹ tục vì nó là biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam. Con nghê được hình thành trong văn hóa Việt Nam ít nhất hàng nghìn năm nay và đã được người dân chấp nhận, đưa nó vào đời sống. Chẳng thế mà hình ảnh của những linh vật mang đậm dấu ấn bản địa lại đem đến cho người xem, người ngắm cảm giác dung dị gần gũi, thân thương. Hay như biểu tượng Tứ linh trong văn hóa Việt Nam, gồm: Long-Rồng; Ly-Lân; Quy-Rùa; Phụng-Phượng cũng có ý nghĩa độc lập với Tứ linh của Trung Quốc. Theo Tiến sĩ Đinh Hồng Hải thì: “Khác với các biểu tượng trong nghệ thuật Phật giáo, Đạo giáo hay Thiên chúa giáo luôn có sự ảnh hưởng của các giáo lý tôn giáo, biểu tượng Tứ linh trong văn hóa Việt Nam mang đặc thù của văn hóa dân gian và tín ngưỡng dân gian bản địa (ngoại trừ cái tên Trung Hoa vẫn được giữ nguyên)”. Biểu tượng Tứ linh trong văn hóa Việt Nam chưa từng được đưa vào các bộ sách chính thống nhưng lại phát triển trong văn hóa dân gian. Trong khi đó, Tứ linh của Trung Quốc là một biểu tượng của cung đình phong kiến Trung Hoa. Hơn nữa, cách sử dụng, mục đích sử dụng cũng có sự khác biệt rất lớn. Tất nhiên, chúng ta có thể tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu khi đặt những linh vật trong không gian như khu di tích, đình, chùa, công sở cơ quan… Bên cạnh quan điểm đặt con nghê thì một ý kiến khác cho rằng có thể dùng linh vật sấu đá thời Lý (thường được bố trí ở lối lên xuống, trước cổng chùa hoặc một số công trình kiến trúc thời Lý) thay thế cho sư tử lạ. Trong khi đó PGS-TS Tống Trung Tín, Viện trưởng Viện Khảo cổ lại đề cử sư tử đá chùa Bà Tấm (Bắc Ninh) bởi lẽ “Đây là một sư tử có tạo hình rất đẹp, lại biểu trưng cho trí tuệ”. Việc giải quyết vấn nạn sư tử đá hay nói rộng hơn là hiện vật lạ trong di tích, đình, chùa sẽ phải là chiến dịch lâu dài, cần có sự tham gia của nhiều ban ngành, thậm chí cả người dân có nhu cầu sử dụng linh vật. Về phía Bộ VH-TT-DL, ông Phan Đình Tân, Chánh Văn phòng Bộ cho biết, Bộ sẽ có đoàn thanh tra đi rà soát hiện trạng tại các di tích, các địa phương ngay trong tuần này. Về phía Cục Mỹ thuật Nhiếp ảnh và Triển lãm cũng khẳng định: “Chúng tôi đang tập hợp một loạt hình ảnh của các linh vật qua các thời kỳ rồi gửi tới các Sở VH-TT-DL. Chúng tôi cũng đề nghị họ chuyển tư liệu đó xuống các đơn vị sản xuất và người dân để họ biết và có thể thì có mẫu làm theo”. Còn một số nhà nghiên cứu, không chỉ chuẩn bị cho ra đời những cuốn sách viết về biểu tượng văn hóa, trong đó có linh vật, họ đã thành lập các nhóm trên cộng đồng mạng để cung cấp thông tin về linh vật thuần Việt. Điều đó chứng tỏ một nhu cầu không nhỏ để trở về những giá trị truyền thống Việt Nam |
0 nhận xét:
Đăng nhận xét